Hotline: 0868.88.99.77
Giỏ hàng 0
Khám Phá 6 Loại Đá Quý Màu Xanh Tuyệt Đẹp

Khám Phá 6 Loại Đá Quý Màu Xanh Tuyệt Đẹp

Màu Xanh Lá Cây là một gam màu thanh lịch, sang trọng nên các loại đá quý sở hữu gam màu này thường được sử dụng thành các sản phẩm trang sức. Mỗi một tinh thể đá, loại đá lại sở hữu vẻ đẹp và tông màu xanh đậm nhạt khác nhau đem tới cảm nhận riêng biệt cho người xem. Các loại đá quý màu xanh lá cây nổi tiếng và được yêu thích nhất hiện nay phải kể đến là Ngọc Lục Bảo – Emerald, Ngọc Bích – Nephrite, Pedidot – Emerald Hoàng Hôn, Tsavorite Garnet, Tourmalin, Diopside …

1. Emerald – Ngọc Lục Bảo

Ngọc Lục Bảo hay Bích Ngọc là một loại khoáng vật berin (Be3Al2(SiO3)6) của berili có màu xanh với các sắc độ của màu lục và màu lục hơi ngả sang màu lam (bluish green). Màu xanh của Ngọc Lục Bảo xuất phát từ hàm lượng nhỏ crôm và đôi khi cả vanađi trong khoáng vật. Emerald thường có màu lục tới lục đậm. Màu lục của emơrôt không gì sánh được vì thế được gọi riêng là “Lục Emerald”. Nguyên nhân tạo màu lục là do Cr2O3, đôi khi là vanadi . Màu sắc rất ổn định dưới tác dụng của ánh sáng và nhiệt, chỉ biến đổi nhiệt độ 700 – 8000C. Màu được ưa chuộng nhất là màu lục thắm, còn màu lục nhạt, vàng lục, lục tối ít chuộng hơn. Màu sắc trong viên đá thường phân bố không đều, mà tạo thành các sọc hoặc đám màu. Sắt cũng thường xuyên có mặt trong Emerald và làm giảm sự phát quang của đá.

Ngọc Lục Bảo -Emerald
Ngọc Lục Bảo -Emerald

2. Nephrite – Ngọc Bích

Nephrit là một biến thể của actinolit trong nhóm amphibol giàu magie và canxi (tập hợp khoáng vật của chúng cũng tạo thành một dạng asbestos). Công thức hóa học của nephrit là Ca2(Mg, Fe)5Si8O22(OH)2. Nephrit là một trong hai loại khoáng vật có tên gọi là jade. Loại còn lại của jade là jadeit, là một biến thể của pyroxen. Ngọc Nephrite chủ yếu có màu xanh lá cây. Ngoài ra, Nephrite còn có một số màu bất kỳ như từ trắng đến xám, vàng đến nâu, đen hay một màu nào khác. Phần lớn ngọc có màu vàng nhạt, có thể xuất hiện một số vế đốm trên thân. Tuy nhiên, ngọc bích Nephrite màu xanh lá cây đậm, sâu và rắn là có giá trị cao nhất.

Nephrit - Ngọc Bích
Nephrit – Ngọc Bích

3. Peridot

Peridot là tên theo tiếng Anh dùng để chỉ một biến thể có màu lục của khoáng vật olivin, là loại silicat chứa Mg và Fe với hàm lượng Mg lớn hơn Fe. Peridot là loại đá đại diện cho những người sinh tháng 8. Với màu sắc lục phớt vàng đặc trưng (Màu Oliu)đây là một đá quý hết sức đặc biệt, có trong các đá núi lửa và trong cả thiên thạch rơi xuống trái đất. Người La Mã gọi peridot là ” Emerald Hoàng Hôn” vì màu lục của chúng không tối vào ban đêm và vẫn thấy được dưới ánh đèn. Ngày nay, phần lớn Peridot được khai thác ở khu bảo tồn San Carlos, bang Arizona Mỹ, và một lượng lớn ở Trung Quốc. Tại Việt Nam cũng có những mỏ đá Periot. Chúng được kết tinh ở giai đoạn đầu của hoạt động phun trào macma. Những khu vực tập trung nhiều Periot nhất là những vùng có đất đỏ bazan như Lâm Đồng, Gia Lai.

Đá Peridot

4. Diopside

Diopside là một loại khoáng vật trong nhóm pyroxen có công thức hóa học MgCaSi2O6. Nó tạo ra một chuỗi dung dịch rắn hòa chỉnh với hedenbergit (FeCaSi2O6) và augit, và các dung dịch rắn từng phần với orthopyroxen và pigeonit. Nó có nhiều màu nhưng đặc trưng nhất là các tinh thể lục tối thuộc nhóm lăng trụ một nghiêng. Diopside được tìm thấy trong các đá siêu mafic (kimberlite và peridotit), và augit giàu diopside là phổ biến trong các đá mafic như basalt olivin và andesit. Diopside cũng được tìm thấy ở nhiều biến thể khác nhau trong các đá biến chất như đá biến chất tiếp xúc skarn phát triển từ các đá dolomit giàu silica. Diopside là khoáng vật quan trọng trong manti của Trái Đất và phổ biến ở dạng thể tù peridotit phun trào trong kimberlite và basalt kiềm.

Đá Diopside

5. Tourmalin

Tourmalin là một khoáng vật silicat vòng, nó là loại đá bán quý và trang sức có nhiều màu sắc khác nhau. Tourmalin có mặt trong đá granit và granit pegmatit và trong các đá biến chất như schist và đá hoa. Các tourmalin giàu liti và Schorl thường được tìm thấy trong granit và granit pegmatit. Các tourmaline giàu magie, dravite, có mặt hạn chế trong schist và đá hoa. Tourmalin là một khoáng vật bền và có thể được tìm thấy một ít trong cát kết và cuội kết, và một phần trong ZTR index đối với các trầm tích phong hóa cao.

Đá Tourmalin

6. Tsavorite Garnet

Tsavorite là một khoáng màu lục sáng thuộc nhóm phụ garnet grossular. Tsavorite được phát hiện năm 1968 nhưng nhanh chóng trở thành đá quý hàng đầu của giới sưu tập. Màu của Tsavorite là lục phớt vàng nhạt đến sẫm đến lục. Màu đẹp nhất là lục mạnh sáng giống màu của cỏ mùa xuân sau cơn mưa. Ovan là hình dạng cắt mài phổ biến nhất ở Tsavorite, nhưng vì quá hiếm nên người ta cũng cắt mài theo dạng đá thô để giữ trọng lượng và kích thước tối đa, cho nên đôi khi cũng thấy những hình dạng lạ. Tsavorite được khai thác chỉ ở Kenya và Tanzania. Mỏ nổi tiếng nhất tên là Bò Cạp ở Kenya. Mới đây, người ta cũng phát hiện được Tsavorite ở Madagasca.

Tsavorite Garnet